Hỗ trợ acid Folic và sắt tỏ ra hữu ích trong trường hợp xảy ra huyết tán, tuy nhiên tình trạng thiếu men G6PD thường không có triệu chứng và chứng huyết tán thường chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn. Các chất chống oxy hóa như vitamin E và selenium không cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tình trạng thiếu men G6PD. Bệnh nhân thiếu G6PD (glucose-6-phosphatase) không được dùng cao hơn liều khuyến cáo. Bệnh nhân đang dùng các thuốc đơn hoặc đa sinh tố hay bất kỳ loại thuốc nào khác cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc này. Chỉ có tiếp xúc trực tiếp dưới 2 m VÀ KHÔNG CÓ PHÒNG HỘ KHUÔN MẶT. Tự nhớ lại khả năng tiếp xúc của bản thân với hàng xóm để biết mình có bị lây không tim mạch, đặt xì ten, viêm gan b,c, thiếu máu tán huyết, rối loạn tiền đình, thiếu g6pd …mấy bữa nay bị Bệnh nhân bị thiếu hụt G6PD; Đối với trường hợp nhiễm trùng không có biến chứng: Bạn dùng 250 mg uống hay tiêm tĩnh mạch một lần một ngày trong 3 ngày. Thuốc Levofloxacin có dùng được cho phụ nữ đang mang thai hoặc đang cho con bú hay không? Hiện nay, vẫn chưa có Bệnh thiếu men G6PD Trong hầu hết các trường hợp, bệnh không thể được chẩn đoán cho đến khi người bệnh có triệu chứng. Chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm máu sàng lọc và định lượng men G6PD. Nếu có sẽ chọn cách phòng ngừa, tránh được nguy cơ sinh con mắc bệnh. Các xét nghiệm sẽ phân tích những gen gây bệnh, đánh giá/tầm soát nguy cơ bệnh di truyền. Hiện có nhiều xét nghiệm mà các cặp đôi có thể lựa chọn để thực hiện trước khi kết hôn: - triSure Carrier sCj2VtV. Thiếu men G6PD là bệnh gì? Thiếu men G6PD là một bệnh lý di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể giới tính X. G6PD là chữ viết tắt của glucose-6-phosphate dehydrogenase. Đây là một loại men có trong cơ thể người, duy trì tính bền vững của màng tế bào, đặc biệt khi tế bào bị “tấn công” bởi các tác nhân oxy hóa có trong thức ăn, thuốc hay các tác nhân gây bệnh xâm nhập từ môi trường bên ngoài, và stress. Đậu fava là một trong những tác nhân gây di ứng thường gặp nhất, làm giảm sức bền của màng hồng cầu ở những người thiếu men G6PD nên bệnh còn có tên gọi là Favism. Khi mắc bệnh thiếu men G6PD, tế bào hồng cầu của người bệnh trở nên dễ vỡ trước các tác nhân oxy hóa kể trên. Tình trạng này được gọi là huyết tán do thiếu men G6PD, nếu kéo dài sẽ gây thiếu máu huyết tán. Trong hầu hết các trường hợp, người bệnh không biểu hiện bất kỳ triệu chứng gì cho đến khi tiếp xúc với các yếu tố khởi phát. Lúc đó các triệu chứng như vàng da, nước tiểu đậm màu, thở nhanh, mệt mỏi sẽ xuất hiện. Biến chứng của bệnh bao gồm thiếu máu và vàng da sơ sinh. Tổ chức Y tế Thế giới phân loại các rối loạn di truyền G6PD thành năm nhóm, ba trong số đó là các trạng thái thiếu hụt men G6PD. Nhóm I Thiếu hụt nghiêm trọng độ hoạt động <10% với thiếu máu tán huyết mạn tính Nhóm II Thiếu hụt nghiêm trọng độ hoạt động <10%, tan máu không liên tục Nhóm III Thiếu hụt vừa phải độ hoạt động 10-60%, tan máu chỉ xảy ra khi phơi nhiễm với các yếu tố khởi phát. Nhóm IV Biến thể không thiếu hụt, không để lại di chứng lâm sàng Nhóm V Tăng hoạt tính enzyme, không để lại di chứng lâm sàng Bệnh thiếu men G6PD là bệnh lý di truyền phổ biến, gặp ở gần 400 triệu người trên thế giới, ước tính tỷ lệ mắc bệnh khoảng 3-5%. Bệnh thường gặp ở các khu vực như châu Á, châu Phi, Địa Trung Hải, trong đó châu Phi là châu lục có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Nam giới bi ảnh hưởng nhiều hơn nữ giới. Năm 2015, thiếu men G6PD được cho là nguyên nhân gây ra hơn trường hợp tử vong. Thiếu men G6PD là bệnh lý bất thường enzym ở người phổ biến đứng thứ hai, sau bệnh thiếu hụt men ALDH2. Di truyền Nguyên nhân gây bệnh thiếu men G6PD là sự khiếm khuyết gen trên nhiễm sắc thể giới tính X. Nam giới bình thường chỉ có một nhiễm sắc thể giới tính X XY trong khi nữ giới có tới 2 nhiễm sắc thể giới tính X XX. Vì vậy bệnh dễ biểu hiện ở nam giới hơn. Nữ giới cần đến sự biến đổi ở cả cặp nhiễm sắc thể giới tính mới gây thiếu men G6PD. Một đứa trẻ mắc bệnh do nhận gen lặn bất thường từ người bố và/hoặc mẹ. Một số trường hợp có thể xảy ra như sau Nếu bố khỏe mạnh kết hôn với mẹ khỏe mạnh nhưng mang gen bệnh Xác suất sinh con gái bị thiếu men G6PD 0% Xác suất sinh con gái khỏe mạnh nhưng mang gen bệnh 50% Xác suất sinh con trai bị thiếu men G6PD 50% Xác suất sinh con trai khỏe mạnh 50% Nếu bố bị thiếu men G6PD kết hôn với mẹ khỏe mạnh và không mang gen bệnh Xác suất sinh con gái bị thiếu enzym G6PD 0% Xác suất sinh con trai bị thiếu enzym G6PD 0% Xác suất sinh con gái khỏe mạnh nhưng mang gen bệnh 100% Nếu bố bị thiếu men G6PD kết hôn với mẹ khỏe mạnh nhưng mang gen bệnh Xác suất sinh con gái bị thiếu men G6PD 50% Xác suất sinh con gái bình thường nhưng mang gen 50% Xác suất sinh con trai bị thiếu men G6PD 50% Xác suất sinh con trai hoàn toàn bình thường 50% Nếu bố và mẹ cùng bị bệnh thiếu men G6PD thì sinh con trai hay gái đều có xác suất bị bệnh là 100%. Yếu tố khởi phát Người bị thiếu men G6PD thông thường chỉ biểu hiện triệu chứng khi tế bào hồng cầu trong máu phơi nhiễm với các yếu tố khởi phát bệnh, chia làm 3 nhóm như sau Thức ăn hạt đậu tằm là tác nhân phổ biến nhất. Thuốc một vài loại thuốc đã được chứng minh thúc đẩy bệnh bao gồm aspirin, sulfamide, xanh methylen, vitamin C liều cao, quinine và các loại thuốc điều trị sốt rét có nguồn gốc từ quinine, hoạt chất chứa naphthalene. Nhiễm trùng virus, vi khuẩn như Hemophylus Influenza, liên cầu tan huyết, Rickettsia, virus viêm gan. Hầu hết người bị bệnh thiếu men G6PD không có dấu hiệu gì bất thường cho đến khi họ tiếp xúc với các yếu tố khởi phát. Triệu chứng lâm sàng có thể gặp lúc này bao gồm Mệt mỏi, chóng mặt, có thể có sốt Khó thở, mạch nhanh Nước tiểu đậm màu Vàng da và/hoặc vàng lòng trắng của mắt. Các triệu chứng của bệnh thay đổi tùy theo thể bệnh Thể cấp tính Bắt đầu xuất hiện sau 24-48 giờ kể từ phơi nhiễm với các yếu tố khởi phát. Biểu hiện trên lâm sàng với sốt cao, nôn ói, đau bụng, da xanh xao, niêm mạc nhạt màu, nước tiểu đậm màu, có thể vào sốc do tan huyết và suy thận cấp. Bệnh thường hồi phục sau vài tuần. Thể vàng da ở trẻ sơ sinh Tiền sử có anh chị em ruột bị vàng da tương tự sau sinh Trẻ sơ sinh sinh ra có biểu hiện vàng da, thiếu máu diễn tiến nhanh. Vàng da xuất hiện trong 24 giờ đầu sau sinh là một dấu hiệu nặng. Thông thường triệu chứng vàng da xuất hiện vào ngày thứ 2, thứ 3 sau sinh Biểu hiện bất thường về thần kinh như li bì, bỏ bú, quấy khóc bất thường cần nghĩ đến biến chứng vàng da nhân. Nếu không điều trị kịp thời, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí não trong tương lai. Những thương tổn này là không hồi phục. Bệnh thiếu men G6PD là một bệnh lý di truyền nên không lây nhiễm giữa người bệnh sang người lành thông qua các con đường tiếp xúc thông thường. Đối tượng nguy cơ dễ mắc bệnh thiếu men G6PD bao gồm Giới tính nam Chủng tộc người châu Á, châu Phi, Địa Trung Hải, đặc biệt là người Mỹ gốc Phi. Tiền sử gia đình có người thân trong gia đình mắc phải bệnh lý này, nhất là các thành viên thế hệ 1 như bố mẹ, con cái và anh chị em ruột. Khi một người có người thân mắc bệnh thiếu men G6PD thì người này rất có thể cũng đang mang gen bệnh. Các cách phòng ngừa và kiểm soát bệnh thiếu men G6PD Sàng lọc sơ sinh bệnh lý thiếu men G6PD hiện nay, cùng với bệnh lý suy giáp bẩm sinh và tăng sinh tuyến thượng thận bẩm sinh, thiếu hụt men G6PD được tiến hành tầm soát đồng thời bằng cách lấy máu tĩnh mạch tại hầu hết các bệnh viện lớn trên cả nước. Thời điểm tốt nhất để tầm soát là từ khi trẻ được 3 đến 7 ngày tuổi. Việc tầm soát sớm, phát hiện sớm có ý nghĩa lớn trong việc hạn chế khởi phát bệnh và phòng ngừa các biến chứng của bệnh, trong đó có vàng da nhân. Khám sàng lọc tiền hôn nhân phát hiện người mang gen bệnh, hạn chế kết hôn giữa những người bị thiếu men G6PD nhưng chưa bộc lộ triệu chứng. Tiêm phòng đầy đủ cho trẻ nhỏ bị thiếu men G6PD Đến gặp bác sĩ tư vấn khi có người thân trong gia đình mắc bệnh Tránh tiếp xúc với các yếu tố khởi phát bệnh đã biết và các yếu tố đặc thù trên từng bệnh nhân. Đến khám ngay khi có các triệu chứng bất thường để kiểm soát tốt bệnh và giảm nhẹ các biến chứng. Việc chẩn đoán xác định bệnh thiếu men G6PD được xác định bằng xét nghiệm định lượng men G6PD trong cơ thể. Các triệu chứng lâm sàng tuy không riêng biệt nhưng có ý nghĩa gợi ý, đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc bệnh hoặc mang gen bệnh. Các xét nghiệm cận lâm sàng khác bao gồm Công thức máu hemoglobin, số lượng hồng cầu. Men gan loại trừ các nguyên nhân khác gây vàng da LDH lactate dehydrogenase đánh giá độ nặng của tình trạng tan máu Test Coombs Định lượng bilirubin máu Phân tích nước tiểu Điều trị bệnh thiếu men G6PD quan trọng nhất là loại bỏ các yếu tố khởi phát một đợt cấp, bao gồm Tránh dùng thức ăn hay các loại thuốc đã được xác định gây tan máu. Tiêm vaccine phòng bệnh có thể chống lại một vài tác nhân gây nhiễm khuẩn như virus viêm gan A, virus viêm gan B. Trong thể bệnh cấp tính, khi tan máu đang xảy ra, truyền máu có thể cần thiết để điều trị bệnh. Truyền máu là phương pháp điều trị làm giảm nhẹ triệu chứng có hiệu quả nhất vì tế bào hồng cầu trong máu người cho không bị thiếu hụt men G6PD nên sẽ tồn tại lâu hơn để cung cấp đủ oxy cho cơ thể. Trong những trường hợp nặng phải cần đến lọc máu khi có suy thận cấp. Cắt lách là phương pháp điều trị ngoại khoa có hiệu quả trên một vài bệnh nhân vì lách là nơi các tế bào hồng cầu bị bắt giữ và phá hủy. Các thuốc như vitamin E và selenium, mặc dù là các tác nhân chống oxy hóa nhưng không có tác dụng điều trị bệnh. Xem thêm Thiếu men G6PD là bệnh gì? Có nguy hiểm không? Thiếu men G6PD ở trẻ sơ sinh gây ra bệnh gì? Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh Phân biệt vàng da sơ sinh sinh lý và vàng da bệnh lý 3 loại bệnh được sàng lọc sơ sinh bằng xét nghiệm máu Vì sao cần sàng lọc sơ sinh sau khi trẻ chào đời? Gói khám tiền hôn nhân cơ bản Bệnh thiếu men G6PD là một bệnh rối loạn chuyển hóa thường gặp. Bệnh phát sinh do đột biến gene G6PD trên cánh dài của nhiễm sắc thể X, vì vậy tần số mắc bệnh này ở nam giới thường cao hơn nữ giới. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh thiếu men G6PD là khoảng 2/100 trẻ sơ sinh, và tỷ lệ này có thể cao hơn ở các vùng dân tộc thiểu số Đoàn Hạnh Nhân, 1997. Gene G6PD là gene có chức năng tổng hợp enzyme Glucose-6-phosphate dehydrogenase G6PD giữ cho màng tế bào hồng cầu ổn định khi cơ thể tiếp xúc với tác nhân oxi hóa. Đột biến trên gene này làm cho cơ thể không sản xuất đủ enzyme G6PD, dẫn đến tế bào hồng cầu bị phá hủy, kéo theo đó là triệu trứng thiếu máu tán huyết và vàng da bệnh lý khi cơ thể tiếp xúc với các tác nhân oxi hóa. Người mắc bệnh thiếu men G6PD thường không có các biểu hiện như thiếu máu tán huyết hay vàng da cho đến khi tiếp xúc với tác nhân oxi hóa được hấp thụ từ một số loại thuốc, thực phẩm, hoặc tình trạng nhiễm trùng. Bệnh thiếu men G6PD là bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn, tuy nhiên người mắc bệnh này vẫn có thể sống khỏe mạnh bình thường nếu được chăm sóc đúng cách và hạn chế tiếp xúc với các tác nhân oxi hóa từ thực phẩm, thuốc và các hóa chất. Người mắc bệnh thiếu men G6PD cần lưu ý tránh tuyệt đối hoặc hạn chế sử dụng các loại thuốc dưới đây phụ thuộc vào tình trạng thiếu men G6PD của mỗi người! Tham vấn bác sĩ về kết quả xét nghiệm sàng lọc sơ sinh và chẩn đoán để có khuyến cáo sử dụng thuốc theo liều lượng và loại thuốc thích hợp cho từng người bệnh! Danh sách này được chia làm 2 nhóm, nhóm khuyến cáo tránh tuyệt đối sử dụng là các chất hoặc thuốc có tính oxi hóa mạnh có thể dẫn đến thiếu máu tán huyết, và nhóm hạn chế sử dụng là các chất có tính oxi hóa ít hơn, không gây ảnh hưởng quá nghiêm trọng nhưng vẫn nên hạn chế sử dụng. Khuyến cáo tránh tuyệt đối Hạn chế sử dụng Thuốc giảm đau, hạ sốt Acetanilid, Ibuprofen, Probenecid Acetylsalicylic acid Aspirin, Antipyrine, Aminophenazone Aminopyrine,Phenazone Antipyrine, Phenacetin Acetophenetidin,Metamizol, Paracetamol, Dipyrone, Acetaminophen Thuốc chống viêm Mesalazine, Nimesulide, Celebrex Colchicine, Phenylbutazone, Acid tiaprofenic Thuốc kháng sinh Acetylphenylhydrazine, Paraminosalicylic Acid Isoniazid,Norfloxacin, Furazolidone, Ciprofloxacin Thuốc chống sốt rét Mepacrine, Pamaquine, Primaquine, Chloroquine, Trimethoprim Proguanil Clorguanidine, Pyrimethamine, Quinidin, Quinine, Quinacrine Pentaquine Thuốc kháng histamin Astemizol Antazoline, Diphenhydramine, Trihexyphenidyl Thuốc chống trầm cảm Lamotrigine, Mirtazapine Vitamins Vitamin K, Vitamin C nhân tạo Thuốc chống dị ứng Tripelennamine, Antistine, Pyribenzamine Thuốc chống co giật Phenytoin, Benzhexol, Levodopa, Trihexyphenidyl Thuốc tim mạch Quinidine Sulfate Procainamide, Isosorbide dinitrate, Quinidine Gluconate Sulfonamide Sulfamethoxazole, Sulfasalazine, Tamsulosin Sulfacytine, Sulfadiazine, Sulfamerazine, Sulfacetamide, Sulfadimidine, Sulfafurazole, Sulfamethoxypyridazine Kynex, Sulfanilamide, Sulfaguanidine, Sulfisoxazole, Sulfafurazone Kháng khuẩn Levofloxacin, Moxifloxacin, Acid Nalidixic, Nitrofurantoin, Nitrofural, Nitrofurazone, Perfloxacin, Sulfathiazole, Niridazole, Beta-naphthol Chloramphenicol, Streptomycin, Sulfoxone, Aldesulfone sodium, Chlorguanidine, Ciprofloxacin, Ofloxacin Hóa trị liệu Dabrafenib, Rasburicase Doxorubicin Ung thư bạch cầu Rasburicase Thuốc lợi tiểu Furosemide, Phenazopyridine Điều trị Parkinson Dopamine, Trihexyphenidyl Điều trị đái tháo đường Glyburide, Glibenclamid, Glimepiride, Glipizide, Chlorpropamide, Metformin, Sulfonylurea Thuốc tiêu hóa MoviPrep, Sulfapyridine Salazopyrin, Sulfasalazine, Mesalazine, Aminosalicylic acid Thuốc chống đông Menadione, Menadione sodium bisulfite, Menaphthone, Phytomenadione, Menadiol Sodium Sulfate Vitamin K4 sodium sulfate Thuốc điều trị thấp khớp Pegloticase, Sulfapyridine Probenecid, Colchicine, Phenylbutazone Thuốc da liễu Dapsone, Diaphenylsulfone Para - aminobenzoic acid Khác Brinzolamide, Menadione Natri Bisulfit Vitamin K3 natri bisulfit, Dimercaprol, Glucosulfone, Henna, Isobutyl Nitrite, Sodium Nitrite, Succimer, Menadione Menaphtone, Method, Methylene blue, Methylthioninium chliride, Naphthalene có trong Băng phiến hay còn gọi là viên long não, Urate Oxidase, Phenylhydrazine, Stibophen, Toluidine Blue, Trinitrotoluene, Dimercaptosuccinic acid, Arsine, Napthalene, Mafenide, Promin, Stibophen Acalypha indica extract, Ascorbic acid, Thiazosulfone, Mepacrine Như vậy, với bảng danh sách trên, các bậc cha mẹ ngoài việc xin tư vấn của bác sĩ chuyên khoa thì hoàn toàn có thể tự tra cứu và đối chiếu thành phần có trong thuốc với danh sách trước khi đưa ra quyết đinh cho trẻ sử dụng một loại thuốc nào đó. Ví dụ, hiện nay, trên thị trường có bán loại thuốc hạ sốt Hapacol, thành phần chính của thuốc này là paracetamol hay còn gọi là acetaminophen được khuyến cáo là có thể sử dụng đối với bệnh nhân G6PD nên cha mẹ có thể cho trẻ sử dụng loại thuốc này với liều lượng thông thường và không sử dụng kéo dài. Nhưng cha mẹ nên tránh tuyệt đối cho trẻ sử dụng thuốc Cifga, là thuốc kháng sinh kháng khuẩn với thành phần chính là Ciprofloxacin có thể gây nguy cơ cao dẫn đến thiếu máu tán huyết. Với mong muốn hỗ trợ cộng đồng một cách hiệu quả trong phát hiện sớm bệnh thiếu men G6PD, chăm sóc sức khỏe những người bị bệnh Thiếu men G6PD, Trung tâm Sàng Lọc Sơ Sinh Bionet Việt Nam đã tạo ra nhóm facebook "Trung tâm hỗ trợ cộng đồng Bệnh thiếu men G6PD - Bionet Việt Nam" . Với hơn 10 năm kinh nghiệm triển khai xét nghiệm Sàng lọc sơ sinh bệnh Thiếu men G6PD, Bionet hy vọng sẽ mang lại nhiều giá trị về tri thức và nhân văn cho tất cả các thành viên tham gia nhóm thông qua các hoạt động + Cung cấp kho thông tin đầy đủ, chính thống, hữu ích qua nhiều dạng tài liệu trong nước và quốc tế + Giao lưu chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc trẻ bị bệnh Thiếu men G6PD và cuộc sống khỏe mạnh thực tế của những người mắc bệnh thiếu men G6PD + Hỗ trợ giải đáp những vấn đề liên quan đến sàng lọc, chẩn đoán, chắm sóc trẻ bị bệnh thiếu men G6PD + Tổ chức những hoạt động trực tuyến nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh Thiếu men G6PD + Tổ chức các hoạt động thực tế hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe cho những người bị bệnh thiếu men G6PD Click vào đường link để tham gia nhóm ngay nhé! Nguồn Bionet Việt Nam Tiêm vắc xin phòng một số bệnh bắt đầu từ giai đoạn sơ sinh là việc cần thiết để đảm bảo cho bé có một hệ miễn dịch tốt hơn trong những năm tháng đầu đời. Ngay vài ngày sau khi tiêm các mũi vắc xin cơ bản cho bé, cơ thể bé sẽ có những phản ứng miễn dịch đầu tiên. Hiểu rõ các phản ứng này, bố mẹ sẽ biết cách chăm sóc bé và tránh được những lo lắng thái quá đặc biệt là đối với những bố mẹ có con mắc bệnh thiếu men G6PD. CÁC MŨI TIÊM PHÒNG CƠ BẢN Để việc tiêm phòng mang lại hiệu quả tốt nhất thì thời điểm tiêm phòng, tiêm nhắc lại cần được lưu ý thực hiện đúng cho từng bệnh. Theo quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010, chương trình tiêm chủng mở rộng được áp dụng như sau LƯU Ý CHUNG KHI ĐƯA TRẺ ĐI TIÊM PHÒNG - Chọn thời điểm thích hợp để đưa trẻ đi tiêm phòng ngoài việc cho trẻ tiêm theo đúng lịch gia đình cũng nên đưa trẻ đi tiêm phòng khi sức khỏe trẻ hoàn toàn khỏe mạnh, không đưa trẻ đi tiêm trong các trường hợp + Trẻ đang mắc bệnh cấp tính, thường biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, ho, sổ mũi, tiêu chảy... + Trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, nhưng còn đang trong thời kỳ hồi sức. + Trẻ mắc bệnh liên quan đến dị ứng, miễn dịch nên thận trọng trong vấn đề tiêm. + Với vắc xin phòng bệnh lao thì những trẻ sinh non, cân nặng chưa đạt yêu cầu dưới 2,5 kg thì tạm thời lùi thời điểm tiêm. Vắc xin được tiêm trong tháng đầu tiên đến 2 tháng tuổi. - Trẻ cần phải ở lại 30 phút tại điểm tiêm chủng để được cán bộ y tế theo dõi và kịp thời xử trí nếu có những phản ứng bất thường xảy ra. - Phân biệt các phản ứng miễn dịch thường gặp và biểu hiện bất thường ở trẻ sau khi tiêm để có cách xử trí kịp thời Các phản ứng ứng miễn dịch thường gặp Biểu hiện bất thường sau khi tiêm vắc xin - Phản ứng sốt nhẹ Sau khi tiêm trẻ có thể bị sốt nhẹ, đây là phản ứng bình thường của cơ thể với thuốc tiêm ngừa và có thể hoàn toàn tự khỏi sau 1-2 ngày. Một số trẻ có thể bị sốt cao từ 38,5oC trở lên khi đó mới cần đến việc dùng thuốc hạ sốt. Do đó chúng ta hoàn toàn không nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt dự phòng ngay sau khi trẻ vừa được tiêm ngừa vì làm như vậy là hoàn toàn không có lợi và đôi khi sẽ gây nguy hiểm cho trẻ. Phản ứng sốt thường xảy ra với mũi tiêm Quinvaxem ngừa được 5 bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B, vi khuẩn Hib, tiêm phòng bệnh thương hàn, - Chỗ tiêm bị sưng đỏ, đau Vấn đề này có thể tồn tại đến vài ngày nhưng đây hoàn toàn là phản ứng bình thường và sẽ tự khỏi, không đáng ngại. Có thể dùng phương pháp chườm lạnh ở chổ tiêm để làm giảm đau cho trẻ. Phản ứng viêm, sưng đỏ thường xảy ra với mũi tiêm phòng Lao và có thể để lại vết sẹo tại vị trí tiêm. - Dị ứng Có thể là Ban mề đay, ngứa toàn thân… phản ứng này thường xảy ra ở trẻ có hay bị dị ứng, các biểu hiện dị ứng này thường tự khỏi sau 1 vài ngày, nhưng nếu trẻ thấy khó chịu nhiều thì đôi khi phải dùng một số thuốc chống dị ứng. - Sốt cao Sốt trên 39oC trong nhiều ngày được cho là biểu hiện bất thường sau khi tiêm vắc xin - Các biểu hiện bất thường khác Co giật, khóc thét, quấy khóc kéo dài, li bì, bú kém, bỏ bú, khó thở, tím tái, phát ban, hoặc khi phản ứng miễn dịch thông thường nhưng kéo dài. Đưa trẻ tới ngay cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra, theo dõi và có phương án khắc phục phù hợp. TRẺ BỊ BỆNH THIẾU MEN G6PD KHI TIÊM PHÒNG CẦN LƯU Ý GÌ? Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào cho thấy sức khỏe trẻ bị bệnh thiếu men G6PD bị ảnh hưởng trực tiếp khi tiêm phòng những mũi ở trên. Các gia đình có bé mắc bệnh thiếu men G6PD nên đưa trẻ đi tiêm phòng theo đúng lịch. Ngoài những lợi ích mà việc tiêm phòng mang lại cho trẻ em nói chung, đối với trẻ bị bệnh thiếu men G6PD thì việc tiêm phòng sẽ giúp trẻ tránh được một số bệnh truyền nhiễm có thể gây ra các cơn tan máu cấp tính như viêm gan do viral hepatitis, virus cúm A… Như phần trên đã nói tới, sau khi tiêm phòng hệ miễn dịch của cơ thể sẽ có những phản ứng nhất định. Đây được xem là những phản ứng bình thường và dễ dàng bắt gặp ở nhiều trẻ. Đối với trẻ bị bệnh thiếu men G6PD cũng sẽ có những phản ứng này. Các bố mẹ cần hiểu để đưa bé đi tiêm và chăm sóc bé đúng cách sau khi tiêm, tránh lo lắng thái quá khi gặp các phản ứng sau tiêm thông thường. Sau khi tiêm cần theo dõi và phân biệt rõ các phản ứng miễn dịch bình thường hay bất thường ở trẻ để xử lý nhanh hoặc đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất. Riêng với trẻ bị bệnh thiếu men G6PD sau khi tiêm phòng nếu trẻ bị sốt cao trên 38,5oC gia đình có thể cho bé uống các loại thuốc hạ sốt theo đúng liều lượng quy định, tuyệt đối không cho trẻ uống quá liều và số lần quy định. Tuyệt đối không sử dụng thuốc hạ sốt có chứa aspirin hoặc thuốc có chứa thành phần là axit salicylic bởi tác dụng phụ của các loại thuốc này có thể kết hợp với thành phần của vắc xin dẫn tới những triệu chứng nghiêm trọng khác. Bạn có thể tham khảo bài viết về việc lựa chọn thuốc hạ sốt cho trẻ bị bệnh thiếu men G6PD tại đây. Nguồn Bionet tổng hợp - Tài liệu tham khảo. 1. 2. 3. HỏiChào bác sĩ,Con em hiện 2 tháng tuổi, bé được chẩn đoán là thiếu men G6DP. Vậy bác sĩ cho em hỏi mẹ cho trẻ thiếu men G6PD bú có tiêm phòng Covid được không? Em cảm ơn bác hàng ẩn danhTrả lờiĐược giải đáp bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hải Hà - Trung tâm Nhi, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times bạn,Với câu hỏi “Mẹ cho trẻ thiếu men G6PD bú có tiêm phòng Covid được không?”, bác sĩ xin giải đáp như sauCon bạn bị thiếu men G6PD, bạn đang cho bé bú vẫn có thể tiêm được vắc-xin Covid-19, trừ vắc-xin Sputnik V của Nga. Sau khi tiêm xong bạn vẫn có thể cho bé bú bình thường và vẫn có thể sử dụng hạ sốt Paracetamol, Panadol, Efferalgan nếu bạn có phản ứng phụ là sốt sau tiêm bạn còn thắc mắc về tiêm phòng Covid, bạn có thể đến bệnh viện thuộc Hệ thống Y tế Vinmec để kiểm tra và tư vấn thêm. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Vinmec. Chúc bạn có thật nhiều sức trọng! Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Trang chủ Khám bệnh online Nhi khoa Câu hỏi Chào BS, BS cho tôi hỏi hiện giờ con tôi được chuẩn đoán là thiếu men G6PD tôi rất băn khoăn về việc tiêm phòng cho cháu. BS cho tôi hỏi thuốc tiêm phòng cho cháu có ảnh hưởng gì không? Trong thuốc tiêm phòng có thành phần ảnh hưởng đến bệnh không? Rất mong câu trả lời của BS. Tôi xin chân thành cảm ơn! Lan Trần – thanhlan… Trả lời Ảnh minh họaChào bạn,Vấn đề tiêm ngừa cho bé thì bạn không phải lo lắng, vì đối với bệnh này bé vẫn được chỉ định tiêm ngừa phòng bệnh như bé bình bạn cần chú ý, khi bé có bệnh thì nên đưa bé đi khám để BS lựa chọn thuốc và cân nhắc liều lượng thuốc điều trị thích hợp cho bệnh của bé. Bạn có thể tham khảo thêm các link sau >> Bé bị thiếu men G6PD cần tránh những gì? >> Bé thiếu men G6PD có được hạ sốt bằng thuốc Paracetamol? - nơi bạn có thể trò chuyện, chia sẻ mọi thắc mắc với bác sĩ chuyên khoa. giúp bạn giải đáp thắc mắc về sức khỏe. Mọi thắc mắc về sức khỏe gửi đến email kbol Bạn đọc có thể ghi kèm số điện thoại để bác sĩ liên hệ khi cần thiết. Để chính xác về nội dung cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu font chữ Unicode. Chân thành cảm ơn. Bài viết có hữu ích với bạn? Có thể bạn quan tâm Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình ©2010 - 2023 bởi Công ty Cổ phần Truyền Thông Hạnh Phúc Thông tin trên trang mang tính chất tham khảo, vui lòng không tự ý áp dụng, nếu không có sự đồng ý của bác sĩ điều trị.

thiếu g6pd có tiêm phòng được không