Thông thường, bài kinh cầu siêu cho người đã chết được sử dụng liên tục trong vòng 49 ngày đầu tiên (tính từ thời điểm người thân qua đời). Nhưng có rất nhiều gia đình duy trì việc tụng kinh này cho đến hết 100 ngày. Cho thuê nhà ở 53 Kim Mã Thượng, Ba Đình, HN. Thông tin chi tiết. - Diện tích là 46m2 x 5 tầng, mặt tiền siêu rộng. - Thiết kế thông sàn cầu thang wc ở cuối nhà. - Trong nhà mới có nóng lạnh và 1 điều hòa. - Khu sầm uất nhiều người nước ngoài sinh sống và làm việc, ngõ rộng ô tô đi lại thoải mãi rất Nghe 15 Phút Kinh Cầu Siêu Vong Linh Siêu Thoát Quan Âm Phù Hộ May Mắn Tài Lộc - Kinh Phật Hay Nhất#toinghekinh #kinhphatgiao #niemphattungkinh #nghetungkinh KXi52Fd. Bài kinh cầu siêu cho người chết được chia sẻ tại Wikichiase. Tụng kinh cho người đã mất đã trở thành phong tục quen thuộc của rất nhiều gia đình Việt Nam. Với mong muốn người đã mất có thể siêu thoát, không còn vấn vương chốn trần thế, yên tâm hưởng lạc ở cõi vĩnh hằng. Gia đình của người đã mất luôn tìm kiếm những bài kinh cầu siêu cho người chết, và đọc nó trong suốt 49 ngày đầu tiên tính từ thời điểm người thân qua đời. Mặc dù khoa học tân tiến chưa chứng tỏ được tính hiệu suất cao của bài kinh cầu siêu cho người đã chết ; nhưng so với những người con sống thì đây là phương pháp biểu lộ sự chu toàn cho người đã mất ; giúp họ ra đi thanh thản và niềm hạnh phúc. Thông thường, bài kinh cầu siêu cho người đã chết được sử dụng liên tục trong vòng 49 ngày tiên phong tính từ thời gian người thân trong gia đình qua đời . Nhưng có rất nhiều mái ấm gia đình duy trì việc tụng kinh này cho đến hết 100 ngày . Dưới đây là bài kinh cầu siêu cho người chết được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Cách tụng kinh cho người chết tại nhà được xem là dễ thực hiện, mất ít thời gian, và người nhà có thể trực tiếp làm công việc này. Cầu siêu là gì? Trước khi tìm hiểu và khám phá nội dung bài kinh cầu siêu cho người chết, quý vị cần hiểu rõ hoạt động giải trí cầu siêu là gì. Nó được thực thi như thế nào và lê dài trong thời hạn bao lâu. Cầu siêu là khấn cầu mong cho người đã mất được siêu thoát, sớm đầu thai hay được về với chư Phật. Đối với phật giáo bắc tông do chịu nhiều ảnh hưởng tác động của pháp môn Tịnh Độ nên những bài kinh được đọc tụng ở những đám tang lễ hầu hết là kinh a di đà, kinh địa tạng và vu lan . Bài kinh cầu siêu người chết là gì? Bài kinh cầu siêu người chết hay như kinh siêu độ cho người chết để vong linh của hộ nhất tâm bất loạn để linh hồn khai tâm theo đó niệm phật và vãng sinh. Theo phật bắc tông đọc kinh Địa Tạng là nhằm mục đích nhớ lại đức hiếu thảo của vì bồ tát này. Đọc kinh Vu – Lan để học hỏi ngài Mục kiền liên về tấm gương báo hiếu của người . Bài kinh cầu siêu người chết không phải là bài kinh chỉ là sự giải thoát của ai với ai. Bởi theo Phật Giáo không ai hoàn toàn có thể giải thoát hay siêu độ cho ai. Sự cầu nguyện chỉ thực sự mang đặc thù hình tượng, tấm lòng của người sống so với người đã mất. Nhưng so với phương diện khác dành cho người đã mất. Bài kinh cầu siêu giúp họ hiểu được việc không nên quyến luyến chốn trần gian. Hãy thuận tiện buông tay để được đầu thai chuyển kiếp . Vì sao phải đọc bài kinh cầu siêu cho người chết? Nghi lễ cầu siêu không chỉ là tốt cho người mất mà còn là một việc tốt đẹp để con cháu trong mái ấm gia đình nhớ đến ân tình, công sinh thành, dưỡng giáo của ông bà, cha mẹ, tổ tiên. Nếu là như vậy thì có thiết yếu phải đọc bài kinh cầu siêu người chết hay không ? Câu vấn đáp là nên tụng kinh cầu siêu cho người mất nhé. Đặc biệt nên tụng liên tục kinh cầu siêu cho đến 49 ngày của người mất . 49 ngày của người mất thật sự là tiến trình quan trọng. Hay còn được gọi là 49 ngày phán quyết, quyết định hành động tái sinh về cảnh giới nào. Thực hiện cầu siêu trong thời hạn này để nhắc nhở vong linh người chết nên hướng thiện tâm, những tư tưởng tốt đẹp, để thức tỉnh thần thức sẽ được tái sinh về nơi tốt đẹp . Ngoài ra, bài kinh cầu siêu người chết còn có mục tiêu giúp vong linh người mất sám hội, ngẫm lại tội lỗi của mình, đồng cảm và gật đầu buông bỏ đau khổ, rời xa quả báo, thoát khỏi cảnh giới tối tăm đọa đày đau khổ. Việc này sẽ giúp cho thần thức vong linh người mất được thảnh thơi, tịnh lạc, mau chóng bước vào luân hồi, chuyển kiếp . Bài kinh cầu siêu cho người chết hầu hết gồm 3 bài kinh tụng. Nhưng để nghi lễ cầu siêu được thực thi một cách khá đầy đủ, chỉnh chu sẽ được thực thi theo trình tự như sau Cúng hương thực hiện thắp 3 nén nhang, cầm nhang ngang trán, quỳ thẳng và niệm bài cúng hương. Sau đó chủ lễ thực hiện làm lễ xá 3 cái rồi cắm hương vào bát hương Tiếp đến đọc tán phật, quán tưởng. Chú ý kết thúc đọc mỗi phần phải xá lạy 1 cái Đọc bài đảnh lễ tiếp đến trì tụng. Đại chúng tức những người ngồi theo tụng cùng tụng theo chủ l đề Tán lư hương đọc 3 lần Tụng kinh niệm chú đại bi, phát nguyện trì kinh Bắt đầu đọc kinh cầu siêu từ khai kinh đến phật nói kinh A Di Đà Niệm kinh maha Bát nhã ba-la mật đa tâm – kinh rồi đến vãng sanh chơn ngôn, tán phật Đọc thần chú thất phật diệt tội, phục nguyện và hồi hướng Sau cùng là tự quy và đảnh lễ cúi lạy Tam bảo thường trụ mười phương. Kết thúc bước này là kết thúc nghi lễ cầu siêu Việc cầu siêu nên được thực thi vừa đủ và theo hướng dẫn đơn cử chỉ tiết của những vị sư thầy, tăng ni phật tử đã có nhiều kinh nghiệm tay nghề đi cúng và đọc bài kinh cầu siêu người chết . Đọc bài kinh cầu siêu cho người chết là tín ngưỡng, truyền thống cuội nguồn truyền kiếp. Là nghi lễ cần phải được triển khai. Bảy, bảy, bốn chín ngày là thời hạn quan trọng so với vong linh người mất để vong linh họ được khai thông, đồng cảm sự luân hồi, buông bỏ oán niệm, suy ngẫm những hành vi sai lầm của mình để việc tái sinh được thuận tiện, hanh thông . Vậy nên dù đã trải qua 49 ngày thì việc liên tục đọc bài kinh cầu siêu người chết vẫn rất tốt và hoàn toàn có thể niệm thêm kinh phật để được an nhàn, đời sau con cháu cũng được an nhàn. Rộng hơn hoàn toàn có thể khiến những chúng sinh cùng nghe để thuận theo phật đạo. Ngoài ra nó còn bộc lộ tấm lòng thiện nguyện, vị tha của chủ lễ cùng những phật tử . Nội dung bài kinh cầu siêu cho người chết tại nhà Dưới đây là bài kinh cầu siêu cho người chết mà những Phật tử hoàn toàn có thể tìm hiểu thêm Niệm hương lễ bái Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm Tịnh pháp – giới chơn – ngôn Án lam xóa ha. 3 lần Tịnh tam – nghiệp chơn – ngôn Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. 3 lần Cúng hương Thắp ba cây hương, quỳ ngay thật, cầm hương ngang trán niệm lớn bài cúng hương Nguyện thử diệu hương vân , Biến mãn thập phương giới , Cúng dường nhứt-thế Phật , Tôn pháp chư Bồ tát , Vô biên Thanh văn chúng , Cập nhứt thế Thánh-Hiền , Duyên khởi quang minh đài , Xứng tánh tác Phật-sự , Phổ huân chư chúng-sanh , Giai phát Bồ-ề tâm , Viễn-ly chư vọng-nghiệp , Viên-thành vô-thượng đạo . Xá 3 xá rồi đọc bài kỳ nguyện Kỳ nguyện Tư thời đệ-tử chúng đẳng phúng tụng kinh chú, xưng tán hồng-danh, tập thử công-đức, nguyện thập-phương thường-trú Tam-bảo, Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, tiếp dẫn đạo-sư A-Di-à Phật, từ-bi tiếp độ hương linh … .. pháp-danh … .. phiền-não đoạn-diệt, nghiệp-chướng tiêu trừ, tốc xả mê đồ, siêu sanh Tịnh-độ, ngưỡng kỳ chư Phật từ-bi phóng quang tiếp độ hương-linh vãng sanh Cực-lạc quốc . Tán phật Pháp vương vô-thượng tôn Tam-giới vô luân thất Thiên nhơn chi ạo-sư Tứ-sanh chi từ-phụ Ư nhứt niệm quy-y Năng diệt tam-kỳ nghiệp Xưng dương nhược tán-thán Ức kiếp mạc năng tận . ứng dậy cầm hướng lên lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm lớn Quán tưởng Năng lễ, sở lễ tánh không tịch , Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì , Ngã thử đạo tràng như ế-châu , Thập phương chư Phật ảnh hiện trung , Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền , ầu diện tiếp túc quy mạng lễ . – Chí tâm đảnh lễ Nam-mô Tận hư-không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị-lai thập-phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, Thường-trú Tam-Bảo. 1 lạy – Chí tâm đảnh lễ Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, ương-lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, ại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, ại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ-Pháp Chư-tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. 1 lạy – Chí tâm đảnh lễ Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới ại-từ ại-bi A-Di-à Phật, ại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát, ại-Thế-Chí Bồ-tát, ại-nguyện ịa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-tịnh ại-hải-chúng Bồ-tát. 1 lạy ứng ngay, vô chuông mõ và đồng tụng Tán lư hương Lư hương sạ nhiệt , Pháp giới mông huân , Chư Phật hải hội tất diêu văn , Tùy xứ kiết tường vân , Thành ý phương ân , Chư Phật hiện body toàn thân . Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-tát ma-ha-tát. 3 lần Chú đại bi Nam-mô ại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. 3 lần Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni . Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa . Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha . Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra . Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha . Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da . Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha . Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. 3 lần Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. 3 lần Khai kinh kệ Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp , Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ , Ngã kim kiến văn đắc thọ trì , Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa . Kinh A Di Đà Nam-mô liên-trì hải-hội phật bồ-tát. 3 lần Phật thuyết a-di-à kinh Như thị ngã văn Nhứt thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, dữ đại Tỳ-kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị đại A-La-hán, chúng sở tri thức Trưởng-lão Xá-Lợi-Phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Câu-hy-la, Li-bà-đa, Châu-lợi bàn-đà-dà, Nan-đà, A-Nan-đà, La-hầu-la, Kiều-phạm-ba-đề, Tân-đầu-lô-phả-la-đọa, Ca-lưu-đà-di, Ma-ha Kiếp-tân-na, Bạc-Câu-la, A-nâu-lâu-đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ-tát ma-ha-tát. Văn-thù Sư-lợi pháp-vương-tử, A-dật-đa Bồ-tát, Càng à-ha-đề Bồ-tát, Thường-tinh-tấn Bồ-tát, dữ như thị đẳng, chư đại Bồ-tát ; cập Thích-đề-hoàn nhơn đẳng, vô-lượng chư thiên, đại-chúng câu . Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá-Lợi-Phất “ Tùng thị Tây-phương quá thập vạn ức Phật-độ, hữu thế-giới danh viết Cực-lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A-Di-à, kim hiện tại thuyết-pháp ” . Xá-Lợi-Phất ! Bỉ độ hà cố danh vi Cực-lạc ? Kỳ quốc chúng-sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực-lạc. Hựu Xá-Lợi-Phất ! Cực-lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la-võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực-lạc . Hựu Xá-Lợi-Phất ! Cực-lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công-đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa, Tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu-ly, pha-lê hiệp thành ; thượng hữu, lâu những, diệc dĩ kim, ngân, lưu-ly, pha-lê, xa-cừ, xích-châu, mã-não nhi nghiêm sức chi. Trì chung liên-hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết . Xá-Lợi-Phất ! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm . Hựu Xá-Lợi-Phất ! Bỉ Phật quốc-độ thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la hoa, kỳ độ chúng-sanh thường dĩ thanh đán, những dĩ y-kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hườn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành . Xá-Lợi-Phất ! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang-nghiêm . Phục thứ Xá-Lợi-Phất ! Bỉ-quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu Bạch-hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng-mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn xướng ngũ-căn, ngũ-lực, thất-bồ-đề phần, bát-thánh-đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng-sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng . Xá-Lợi-Phất ! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà ? Bỉ Phật quốc-độ vô tam ác đạo. Xá-Lợi-Phất ! Kỳ Phật quốc-độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A-Di-à Phật dục linh pháp-âm tuyên lưu biến hóa sở tác . Xá-Lợi-Phất ! Bỉ Phật quốc-độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm. Xá-Lợi-Phất ! Kỳ Phật quốc-độ, thành tựu, như thị công-đức trang-nghiêm . Xá-Lợi-Phất ! Ư nhữ ý vân hà ? Bỉ Phật hà cố hiệu A-Di-à ? Xá-Lợi-Phất ! Bỉ Phật quang-minh vô-lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A-Di-à . Hựu Xá-Lợi-Phất ! Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cố danh A-Di-à . Xá-Lợi-Phất ! A-Di-à Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp . Hựu Xá-Lợi-Phất ! Bỉ Phật hữu vô-lượng vô-biên Thinh-văn đệ-tử, giai A-la-hán, phi thị toán số chi sở năng tri ; chư Bồ-tát chúng diệc phục như thị . Xá-Lợi-Phất ! Bỉ Phật quốc độ thành-tựu như thị công-đức trang-nghiêm . Hựu Xá-Lợi-Phất ! Cực-lạc quốc-độ chúng-sanh sanh giả, giai thị a-bệ-bạt-trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thuyết . Xá-Lợi-Phất ! Chúng-sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà ? ắc dữ như thị chư thượng thiện-nhơn câu hội nhứt xứ . Xá-Lợi-Phất ! Bất khả dĩ thiểu thiện-căn phước-đức nhơn-duyên, đắc sanh bỉ quốc . Xá-Lợi-Phất ! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nư nhơn, văn thuyết A-Di-à Phật, chấp trì danh-hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A-Di-à Phật dữ chư Thánh-chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên-đảo, tức đắc vãng-sanh A-Di-à Phật Cực-lạc quốc-độ . Xá-Lợi-Phất ! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng-sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ . Xá-Lợi-Phất ! Như ngã kim giả, tán thán A-Di-à Phật bất khả tư nghị công-đức chi lợi . ông phương diệc hữu A-súc-bệ Phật, Tu-di-tướng Phật, ại-tu-di Phật, Tu-di-quang Phật, Diệu-âm Phật ; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, những ư kỳ quốc, xuất trung tâm vui chơi quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “ Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh ” . Xá-Lợi-Phất ! Nam phương thế-giới hữu Nhựt-Nguyệt-ăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, ại-Diệm-Kiên Phật, Tu-Di-ăng Phật, Vô-Lượng Tinh Tấn Phật ; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, những ư kỳ quốc, xuất trung tâm vui chơi quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “ Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh ” . Xá-Lợi-Phất ! Tây-Phương thế-giới hữu Vô-Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, ại-Quang-Phật, ại-Minh Phật, Bảo-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật ; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, những ư kỳ quốc, xuất trung tâm vui chơi quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “ Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh ” . Xá-Lợi-Phất ! Bắc phương thế-giới, hữu Diệm-Kiên Phật, Tối-Thắng-AÂm Phật, Nan-Thơ Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng Minh Phật ; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, những ư kỳ quốc, xuất trung tâm vui chơi quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “ Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh ” . Xá-Lợi-Phất ! Hạ phương thế-giới, hữu Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, ạt-Ma Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật ; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, những ư kỳ quốc, xuất trung tâm vui chơi quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “ Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh ” . Xá-Lợi-Phất ! Thượng phương thế-giới, hữu Phạm-AÂm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, ại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc-Bảo-Hoa-Nghiêm thân Phật, Ta-La-Thọ-Vương Phật, Bảo-Hoa-ức Phật, Kiến-Nhứt-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật ; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, những ư kỳ quốc, xuất trung tâm vui chơi quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “ Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh ” . Xá-Lợi-Phất ! “ Ư nhữ ý vân hà ? Hà cố danh vi Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh ” ? Xá-Lợi-Phất ! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, giai vi nhứt-thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị cố Xá-Lợi-Phất ! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết . Xá-Lợi-Phất ! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát-nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A-Di-à Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh . Thị cố Xá-Lợi-Phất ! Chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ . Xá-Lợi-Phất ! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công-đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công-đức nhi tác thị ngôn “ Thích-Ca Mâu-Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta-bà quốc-độ ngũ-trược ác thế ; kiếp-trược, kiến-trược, phiền-não trược, chúng-sanh trược, mạng-trược trung đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị chư chúng-sanh, thuyết thị nhứt thiết thế-gian nan tín chi pháp . Xá-Lợi-Phất ! ương tri ngã ư ngũ-trược ác thế, hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị nhứt thiết thế-gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan . Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá-Lợi-Phất cập chư Tỳ-kheo, nhứt thiết thế-gian, Thiên, Nhơn, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan-hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ. Phật thuyết A-Di-à kinh . A Di Đà Phật tán Tây-phương Giáo-Chủ Tịnh-độ năng Nhơn, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Phát nguyện thệ hoằng thâm. Thượng-phẩm thượng-sanh, ồng phó Bửu-Liên thành . Chí tâm đảnh lễ Mỗi câu đều đọc 1 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Lượng-Quang Như-Lai . 2 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Biên-Quang Như-Lai . 3 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Ngại-Quang Như-Lai . 4 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-ối-Quang Như-Lai . 5 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Diệm-Vương-Quang Như-Lai . 6 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Thanh-Tịnh-Quang Như-Lai . 7 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Hoan-Hỉ-Quang Như-Lai . 8 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Trí-Huệ-Quang Như-Lai . 9 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Nan-Tư-Quang Như-Lai . 10 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Bất-oạn-Quang Như-Lai . 11 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Xưng-Quang Như-Lai . 12 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Siêu-Nhật-Nguyệt-Quang Như-Lai . Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách . Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị . Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận ; vô khổ, tập, diệt, đạo ; vô trí diệc vô đắc . Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại ; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề . Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư . Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. 3 lần Vãng sanh quyết định hành động chơn ngôn Nam-mô a di đa bà dạ, a tha dà đa dạ, a địa dạ tha . A di rị đô bà tỳ , A di rị đa tất đam bà tỳ , A di rị đa tì ca lan đế , A di rị đa, tì ca lan đa , Dà di nị dà dà na , Chỉ đa ca lệ ta bà ha . Tán Phật A-Di-à Phật thân kim sắc Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di Cám mục trừng thanh tứ đại hải . Quang trung hóa Phật vô số ức , Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn . Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-à Phật . Nam-mô A-Di-à Phật. Niệm nhiều ít tùy ý Nam-mô ại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. 3 lần Nam-mô ại-Thế-Chí Bồ-tát. 3 lần Nam-mô ại-Tạng Vương Bồ-tát. 3 lần Nam-mô Thanh-tịnh ại-Hải chúng Bồ-tát. 3 lần Sám thập phương Thập phương Tam-thế Phật A-Di-à đệ nhứt , Cửu phẩm độ chúng-sanh Oai-đức vô cùng cực , Ngã kim đại quy-y . Sám-hối tam nghiệp tội , Phàm hữu chư phước thiện , Chí tâm dụng hồi-hướng . Nguyện đồng niệm Phật nhơn , Cảm ứng tùy thời hiện , Lâm chung Tây-phương cảnh , Phân-minh tại mục tiền , Kiến văn giai tinh tấn , ồng sanh Cực-lạc quốc , Kiến Phật liễu sanh-tử , Như Phật-độ nhứt-thiết , Vô-biên phiền-não đoạn , Vô-lượng pháp môn tu ; Thệ nguyện độ chúng-sanh , Tổng giai thành Phật đạo ; Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng , Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng , Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí . Mười đại nguyện Quỳ đọc ệ-tử chúng đẳng Tùy-thuận tu tập Phổ-Hiền Bồ-tát Thập chủng đại nguyện Nhứt giả lễ kính chư Phật , Nhị giả xưng tán Như-Lai , Tam giả quảng tu cúng-dường , Tứ giả sám-hối nghiệp-chướng , Ngũ giả tùy-hỷ công-đức , Lục giả thỉnh chuyển pháp-luân , Thất giả thỉnh Phật trụ thế , Bát giả thường tùy Phật học , Cửu giả hằng thuận chúng-sanh , Thập giả phổ giai hồi-hướng . Hồi hướng Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh , Vô biên thắng phước giai hồi-hướng , Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh , Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát . Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não , Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu , Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ . Thế thế thường hành Bồ-tát đạo . Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung , Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu , Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh , Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ . Nguyện dĩ thử công-đức , Phổ cập ư nhứt thiết , Ngã đẳng dữ chúng-sanh , Giai cộng thành Phật-đạo . Thượng lai Vị chủ lễ xướng một mình như sau ệ-tử chúng đẳng, cung tựu Phật tiền, phúng tụng ại-thừa kinh chú, cập niệm Phật công đức, chuyên vì kỳ siêu hương linh … .. Pháp danh … .. tốc xả mê-đồ, siêu sanh Tịnh-độ . Phục nguyện Nhứt thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện hương linh đắc độ cao-siêu, kỳ gia-quyến hàm triêm lợi-lạc . Phổ nguyện Âm siêu dương thới, pháp giới chúng-sanh, tình dữ vô tình, tề thành Phật đạo . Nam-mô A-Di-à Phật . ồng niệm Tam quy y Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại-đạo, phát vô-thượng tâm. 1 lạy Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, xâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. 1 lạy Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. 1 lạy Khác với những bài kinh tụng trong đám tang thường sẽ do thầy cúng hoặc sư thầy đọc ; bài kinh cầu siêu cho người chết hoàn toàn có thể do chính mái ấm gia đình của người đã mất tụng đọc. Miễn sao, khi đọc kinh cầu siêu họ biểu lộ được sự thành tâm cầu nguyện với bề trên ; mong cho người thân trong gia đình đã mất của họ được ra đi thanh thản, nhẹ nhàng và sớm được siêu thoát . Nhiều người cho rằng, bài kinh cầu siêu cho người đã mất nên để người thân trong nhà đọc tụng, như thế sẽ thể hiện được tâm ý chân thành hơn. Chính thân nhân của người đã khuất trong quá trình tụng kinh cầu siêu cũng cảm thấy tâm hồn của mình được nhẹ nhàng hơn, và đồng thời cũng là đang tự cầu siêu cho chính mình sau này. Tụng kinh cầu siêu cho người đã mất đã trở nên quá đỗi quen thuộc so với phong tục người Việt khi trong mái ấm gia đình có người mất. Khi đã hiểu được ý nghĩa, sự quan trọng và giá trị tâm linh mà những bài kinh cầu siêu cho người đã chết mang lại, chắc như đinh trong mỗi tất cả chúng ta đều muốn khám phá bài kinh này . Xẹm thêm Tụng kinh gì cho người mới mất? Vấn đề không phải ở nơi sự chọn lựa Kinh nào để tụng, mà điều quan trọng nhất là sự thành tâm thành ý trong khi tụng niệm. Cách tụng Kinh cho người mới mất Tụng kinh cho người mới mất là việc ai cũng có thể làm. Chỉ cần trong suốt thời gian bao nhiêu ngày tụng kinh đó Bạn ăn chay, giữ ngũ giới, kiêng cử Ngũ vị tân và có một nơi sạch sẽ, yên tĩnh là được. Vong linh nhờ nơi công đức tụng kinh này sẽ sớm được vãng sanh về cõi lành. Lại bạn tự mình tụng kinh cho người thân là tốt nhất, đừng nhờ thầy gọi thợ làm chi, tốn kém và chẳng ích lợi gì cho người đã khuất đâu. Tại sao thế? Bởi thời mạt pháp này thỉnh được bậc tu hành chân chính đến giúp là vô cùng khó. Đa phần tụng kinh đám là để lấy tiền. Mà người tụng đã dính vào danh lợi thì tâm không chí thành, tâm không chí thành thì tụng kinh không thể cảm ứng được! Thời gian gần đây nhiều bạn đọc nhắn hỏi về vấn đề này. Mỗi người một hoàn cảnh, một thắc mắc riêng, nhưng tựu trung lại đều là người sơ cơ nên không nắm vững được phương pháp… Nguyện người hữu duyên đọc bài này mà nắm rõ được phương pháp; lại phát tâm chân chánh học Phật để người còn lẫn người mất cùng được lợi lạc, cùng lìa khổ được vui! Tin liên quan Đọc Kinh nghe Pháp có ý nghĩa và lợi ích gì hay không? 5 bộ Kinh Phật thường đọc tụng và ý nghĩa cơ bản bạn nên biết Tụng Kinh tại nhà không có bàn thờ Phật có được không? Nghi thức cúng giao thừa và vía Phật Di Lặc Người thân của ta mới mất đi, ta đau lòng, thương tiếc, ta muốn làm điều gì đó lợi lạc cho người đã khuất mà chẳng biết làm gì hoặc làm thế nào là tốt nhất cho họ. Ta cũng chưa bao giờ biết được rằng Họ đang tột cùng trong nỗi hoang mang, cô đơn và đói khổ! Họ chỉ mong con cháu có thể làm điều gì đó giúp đỡ cho họ mà vô phương báo cho chúng biết. “Bởi chúng cũng như ta, lúc còn sống luôn nghĩ rằng chết là hết. Nào có biết chết rồi lại đau đớn, đói khát và vất vưởng như thế này đâu!?” Theo Kinh Địa Tạng, Bồ Tát dạy “Những chúng sinh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một ức Phật, danh hiệu của một Bồ tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả. Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cả việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó. Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời đặng hưởng trọn phần công đức.” Trước khi tụng kinh cho người mới mất, bạn phải khắc cốt ghi tâm điều này Chớ sát sinh trong nhà, dù con trùng con kiến cũng không nên giết chúng. Chỉ nên cúng chay, tuyệt đối không cúng mặn. Tại sao thế? Bởi sát sinh cúng mặn sẽ khiến tội của người mất tăng thêm rất nhiều lần. Người tụng kinh phải ăn chay trường, giữ giới và kiêng ngũ vị tân; Ít nhất là trong bao nhiêu ngày phát nguyện tụng kinh đó phải kiêng cữ. Tại sao thế? Vì nếu bạn ăn mặn tụng kinh sẽ chẳng có cảm ứng gì. Nếu ăn ngũ vị tân thì thân thể hôi hám, chư thiên và hộ pháp không đến hộ trì. Người tụng kinh trước khi tụng tắm rửa sạch sẽ, nếu có gia đình thì trong thời gian tụng kinh nên kiêng quan hệ. Lý của việc này hơi vi tế, nói không được, tốt nhất là nên như thế. Bởi người chết ở trong giai đoạn này vô cùng bơ vơ, khổ sở, đói khát… họ chỉ mong con cháu giúp đỡ mình mà không cách chi báo cho chúng nó biết được! Cho nên khi tụng kinh phải cố gắng tụng cho trọn vẹn cả bộ, đừng hời hợt trì tụng, vong linh biết họ rất đau lòng và dễ khởi tâm sân hận. Một niệm sân hận khởi lên trong cảnh giới Thân Trung Ấm này vô cùng khủng khiếp, nó có thể khiến họ đọa ngay lập tức vào trong ba ác đạo!” Tụng kinh gì cho người mới mất để cầu siêu? Khi trong gia đình có người thân mất, thông thường người ta hay phát nguyện tụng Kinh Địa Tạng hoặc Kinh Di Đà hay Kinh Vu Lan Báo Hiếu… Điều này, còn tùy theo căn cơ, sở nguyện và ý thích của những thân nhân trong gia đình. Nếu Phật tử thấy có nhân duyên thích hợp với bộ Kinh nào thì cứ đọc tụng bộ Kinh đó. Bởi Kinh nào cũng đều do Phật nói cả. Vấn đề không phải ở nơi sự chọn lựa Kinh nào để tụng, mà điều quan trọng nhất là sự thành tâm thành ý trong khi tụng niệm. Chúng ta không nên có quan niệm rằng phải tụng đọc Kinh Địa Tạng thì người mất mới được chóng siêu thoát. Bởi Kinh Địa Tạng đặc biệt là chuyên dành để cầu siêu bạt độ vong linh cho những người mới mất. Còn như đọc tụng các Kinh khác như Di Đà hay Vu Lan Báo Hiếu, thì người mất lâu được siêu thoát. Bởi những Kinh nầy sức gia hộ độ trì của chư Phật, Bồ tát không được mạnh mẽ bằng Kinh Địa Tạng. Đó là những quan niệm hết sức sai lầm mà Phật tử chúng ta nên tránh. Có người còn nói, nếu chỉ tụng đọc kinh không thôi mà không có trì chú thì hương linh của người mất cũng khó được siêu thoát. Bởi đọc kinh không có linh nghiệm bằng trì chú. Có người bảo, muốn cho hương linh chóng được thác sanh về cảnh giới an lành thì phải tụng Kinh Pháp Hoa hoặc Kinh Đại Bát Niết Bàn… Người nói như thế quả thật là họ chưa hiểu gì về ý nghĩa của các kinh điển mà Phật nói cả. Đâu phải kinh điển Phật nói ra là chuyên để tụng đọc cầu nguyện siêu độ cho người chết. Nếu vậy, thì còn gì ý nghĩa sự ra đời độ sinh của đức Phật? Bởi đức Phật ra đời là để độ sinh chớ đâu phải để độ tử. Nói chung, đã là kinh Phật thì bộ kinh nào chúng ta cũng có thể tụng đọc được cả. Vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, vọng chấp, khai thông nguồn tuệ giác cho tất cả chúng sinh, mà thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo gọi là “Chuyển mê khai ngộ”. Nếu tụng đọc kinh điển Phật dạy chỉ để cầu siêu cho người chết không thôi, hiểu thế thì thật là oan uổng cho chư Phật lắm! Và như thế thì còn gì là đạo Phật? Chúng ta không nên có những quan niệm hời hợt và hiểu sai lệch đạo Phật như thế. Hiểu thế, thì chúng ta sẽ đắc tội với Phật pháp vậy. Trở lại vấn đề trên, như tôi đã nêu ra những quyển Kinh như Kinh Địa Tạng. Kinh Di Đà, Kinh Vu Lan Báo Hiếu, tùy Phật tử chọn lựa bộ kinh nào thích hợp để trì tụng cũng đều được cả. Điều quan trọng là khi tụng niệm, Phật tử và những người thân hay bạn bè, tất cả đều phải chí thành tha thiết để tụng niệm. Có thế, thì hương linh của người quá cố mới được có phần lợi lạc vậy. Còn siêu thoát hay không, phần lớn là còn tùy thuộc vào nghiệp nhân của người mất đã gây tạo. Kính chúc Phật tử có đủ niềm tin và trí sáng trong việc hành trì tu tập để có được lợi lạc hạnh phúc trong nếp sống bình nhật. Tâm Hướng Phật/St! NỘI DUNG BÀI VIẾT Tại sao phải tụng kinh cầu siêu cho người chết? Nguồn gốc của nghi thức cầu siêu Ai mới có đủ sức mạnh để cầu siêu? Cách tụng kinh cầu siêu cho người chết tại nhà Việc tụng kinh cầu siêu cho người chết là một việc làm thể hiện sự tri ân, lòng thành của con cái đối với ông bà cha mẹ tổ tiên. Cầu có nghĩa là cầu nguyện, siêu là siêu thoát. Cầu siêu có nghĩa là cầu nguyện để mong cho linh hồn của người chết sớm được siêu thoát. Nếu còn đang bị đọa đày ở cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thì sẽ sớm được giảm nhẹ tội và vãng sinh về nơi Tịnh độ của Phật A Di Đà. Việc tụng kinh cầu siêu cho người chết là một việc làm quan trọng mà các Phật tử nên thực hiện Kinh Phật cho biết rằng, khi con người ở trong trạng thái thân trung ấm thì các vong linh sẽ trở nên vô cùng thông minh, lanh lợi hơn gấp nhiều lần so với lúc họ còn sống. Họ mang trong mình nhiều năng lực, có thể đọc được tâm của người khác. Biết được trong gia đình có thực sự đau buồn hay vui sướng trước cái chết của họ. Vì thần thức quá tinh thông nên nếu như phát hiện ra người thân trong gia đình không quan tâm đến cảnh khổ của họ thì họ lại càng đau lòng. Nguồn gốc của nghi thức cầu siêu Nguồn gốc của việc tụng kinh cầu siêu cho người chết bắt nguồn từ sự tích của Tôn giả Mục Kiền Liên. Trong Kinh có kể lại rằng khi xưa mẹ của Mục Kiền Liên là người không tin vào Tam Bảo nên bà thường phỉ báng chư tăng, sống lãng phí sa hoa, không tiết kiệm. Do đó khi chết đi bà bị đọa đày xuống cõi địa ngục. Tôn giả Mục Kiền Liên khi ấy đã dùng phép thần thông của mình để soi khắp các cõi trời đất mới tìm thấy được mẹ mình. Khi biết được mẹ mình đang phải chịu sự thống khổ nơi địa ngục, ngài đã đến cầu xin Đức Phật để tìm cách cứu mẹ. Đức Phật nói rằng nhân dịp chư Tăng sau 3 tháng an cư tịnh tiên tu tập 3 phần giới, định, tuệ, tích lũy đầy đủ công đức nên cúng dường với tâm thanh tịnh để chư Tăng chú nguyện vào phẩm vật cúng dường. Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy và đã thành công cứu được mẹ mình thoát khỏi địa ngục. Nguồn gốc của việc tụng kinh cầu siêu cho người chết bắt nguồn từ sự tích của Tôn giả Mục Kiền Liên Kể từ đó nghi thức cầu siêu cho người chết bắt đầu được hình thành. Các Phật tử có lòng hiếu thảo noi theo tấm gương của Mục Kiền Liên để cầu nguyện cho ông bà cha mẹ sớm được vãng sinh nơi cửa Phật. Chúng ta vốn dĩ không có phép thần thông nên không biết người thân của chúng ta sau khi chết sẽ đọa về đâu. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tụng kinh cầu siêu cho người chết trong thời gian thân trung ấm hoặc vào ngày rằm tháng 7 hàng năm để giúp tăng phước lành hoặc làm giảm nhẹ nghiệp báo của họ. Ai mới có đủ sức mạnh để cầu siêu? Người có đủ sức mạnh để tụng kinh cầu siêu cho người chết chính là các vị chư Tăng sau 3 tháng an cư kiết hạ, thanh tịnh giới phẩm, thành tâm cầu nguyện Phật pháp thì mới có đủ sức mạnh để phá cửa địa ngục, để các tội nhân ở đó được dự lễ cầu siêu vào rằm tháng 7 âm lịch. Đức Phật dạy rằng, trong màu Vu Lan báo hiếu, tất cả chư tăng mang trên mình trọng trách giúp cho các phật tử thực hành và tích lũy công đức để có thể siêu độ cho ông bà cha mẹ của mình. Khi thực hành lễ cầu siêu, trước hết chúng ta nương công đức của vị chư tăng để nguyện cầu cho người thân được siêu thoát. Song chúng ta không thể ỷ lại hoàn toàn trách nhiệm cho chúng Tăng. Các Phật tử là con cháu thì cần có sự kết nối với tâm thức người đã chết. Họ sẽ chỉ liên kết với năng lượng tâm của các bạn, còn các chư Tăng chỉ mở rộng lòng từ, để năng lượng từ bi được trải rộng khắp nơi. 6 ngả luân hồi trong Phật giáo Những người được cầu siêu có hưởng được sự lợi lạc từ những nguồn năng lượng này hay không còn tùy thuộc vào sự kết nối về quan hệ huyết thống với con cháu trong buổi lễ. Chúng ta ngồi đây tụng Kinh cầu siêu tạo nên nguồn năng lượng tích cực bằng cái tâm thành kính. Bởi công đức tụng kinh, mỗi câu niệm Phật tạo nên trong không gian nguồn năng lực rất an lành. Cách tụng kinh cầu siêu cho người chết tại nhà Dưới đây là bài kinh cầu siêu cho người chết mà các Phật tử có thể tham khảo Niệm hương lễ bái Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm Tịnh pháp – giới chơn – ngôn Án lam xóa ha. 3 lần Tịnh tam – nghiệp chơn – ngôn Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. 3 lần Cúng hương Thắp ba cây hương, quỳ ngay thẳng, cầm hương ngang trán niệm lớn bài cúng hương Nguyện thử diệu hương vân, Biến mãn thập phương giới, Cúng dường nhứt-thế Phật, Tôn pháp chư Bồ tát, Vô biên Thanh văn chúng, Cập nhứt thế Thánh-Hiền, Duyên khởi quang minh đài, Xứng tánh tác Phật-sự, Phổ huân chư chúng-sanh, Giai phát Bồ-ề tâm, Viễn-ly chư vọng-nghiệp, Viên-thành vô-thượng đạo. Xá 3 xá rồi đọc bài kỳ nguyện Kỳ nguyện Tư thời đệ-tử chúng đẳng phúng tụng kinh chú, xưng tán hồng-danh, tập thử công-đức, nguyện thập-phương thường-trú Tam-bảo, Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, tiếp dẫn đạo-sư A-Di-à Phật, từ-bi tiếp độ hương linh….. pháp-danh….. phiền-não đoạn-diệt, nghiệp-chướng tiêu trừ, tốc xả mê đồ, siêu sanh Tịnh-độ, ngưỡng kỳ chư Phật từ-bi phóng quang tiếp độ hương-linh vãng sanh Cực-lạc quốc. Tán phật Pháp vương vô-thượng tôn Tam-giới vô luân thất Thiên nhơn chi ạo-sư Tứ-sanh chi từ-phụ Ư nhứt niệm quy-y Năng diệt tam-kỳ nghiệp Xưng dương nhược tán-thán Ức kiếp mạc năng tận. ứng dậy cầm hướng lên lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm lớn Quán tưởng Năng lễ, sở lễ tánh không tịch, Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì, Ngã thử đạo tràng như ế-châu, Thập phương chư Phật ảnh hiện trung, Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, ầu diện tiếp túc quy mạng lễ. – Chí tâm đảnh lễ Nam-mô Tận hư-không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị-lai thập-phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, Thường-trú Tam-Bảo. 1 lạy – Chí tâm đảnh lễ Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, ương-lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, ại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, ại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ-Pháp Chư-tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. 1 lạy – Chí tâm đảnh lễ Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới ại-từ ại-bi A-Di-à Phật, ại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát, ại-Thế-Chí Bồ-tát, ại-nguyện ịa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-tịnh ại-hải-chúng Bồ-tát. 1 lạy ứng ngay, vô chuông mõ và đồng tụng Tán lư hương Lư hương sạ nhiệt, Pháp giới mông huân, Chư Phật hải hội tất diêu văn, Tùy xứ kiết tường vân, Thành ý phương ân, Chư Phật hiện toàn thân. Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-tát ma-ha-tát. 3 lần Chú đại bi Nam-mô ại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. 3 lần Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni. Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. 3 lần Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. 3 lần Khai kinh kệ Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, Ngã kim kiến văn đắc thọ trì, Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa. Kinh A Di Đà NAM-MÔ LIÊN-TRÌ HẢI-HỘI PHẬT BỒ-TÁT. 3 lần PHẬT THUYẾT A-DI-À KINH Như thị ngã văn Nhứt thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, dữ đại Tỳ-kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị đại A-La-hán, chúng sở tri thức Trưởng-lão Xá-Lợi-Phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Câu-hy-la, Li-bà-đa, Châu-lợi bàn-đà-dà, Nan-đà, A-Nan-đà, La-hầu-la, Kiều-phạm-ba-đề, Tân-đầu-lô-phả-la-đọa, Ca-lưu-đà-di, Ma-ha Kiếp-tân-na, Bạc-Câu-la, A-nâu-lâu-đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ-tát ma-ha-tát. Văn-thù Sư-lợi pháp-vương-tử, A-dật-đa Bồ-tát, Càng à-ha-đề Bồ-tát, Thường-tinh-tấn Bồ-tát, dữ như thị đẳng, chư đại Bồ-tát; cập Thích-đề-hoàn nhơn đẳng, vô-lượng chư thiên, đại-chúng câu. Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá-Lợi-Phất “Tùng thị Tây-phương quá thập vạn ức Phật-độ, hữu thế-giới danh viết Cực-lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A-Di-à, kim hiện tại thuyết-pháp”. Xá-Lợi-Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực-lạc? Kỳ quốc chúng-sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực-lạc. Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la-võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực-lạc. Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công-đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa, Tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu-ly, pha-lê hiệp thành; thượng hữu, lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu-ly, pha-lê, xa-cừ, xích-châu, mã-não nhi nghiêm sức chi. Trì chung liên-hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết. Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm. Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc-độ thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la hoa, kỳ độ chúng-sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y-kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hườn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành. Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang-nghiêm. Phục thứ Xá-Lợi-Phất! Bỉ-quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu Bạch-hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng-mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn xướng ngũ-căn, ngũ-lực, thất-bồ-đề phần, bát-thánh-đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng-sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá-Lợi-Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc-độ vô tam ác đạo. Xá-Lợi-Phất! Kỳ Phật quốc-độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A-Di-à Phật dục linh pháp-âm tuyên lưu biến hóa sở tác. Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc-độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm. Xá-Lợi-Phất! Kỳ Phật quốc-độ, thành tựu, như thị công-đức trang-nghiêm. Xá-Lợi-Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A-Di-à? Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quang-minh vô-lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A-Di-à. Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cố danh A-Di-à. Xá-Lợi-Phất! A-Di-à Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp. Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật hữu vô-lượng vô-biên Thinh-văn đệ-tử, giai A-la-hán, phi thị toán số chi sở năng tri; chư Bồ-tát chúng diệc phục như thị. Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc độ thành-tựu như thị công-đức trang-nghiêm. Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc-độ chúng-sanh sanh giả, giai thị a-bệ-bạt-trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thuyết. Xá-Lợi-Phất! Chúng-sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? ắc dữ như thị chư thượng thiện-nhơn câu hội nhứt xứ. Xá-Lợi-Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện-căn phước-đức nhơn-duyên, đắc sanh bỉ quốc. Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nư nhơn, văn thuyết A-Di-à Phật, chấp trì danh-hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A-Di-à Phật dữ chư Thánh-chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên-đảo, tức đắc vãng-sanh A-Di-à Phật Cực-lạc quốc-độ. Xá-Lợi-Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng-sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ. Xá-Lợi-Phất! Như ngã kim giả, tán thán A-Di-à Phật bất khả tư nghị công-đức chi lợi. ông phương diệc hữu A-súc-bệ Phật, Tu-di-tướng Phật, ại-tu-di Phật, Tu-di-quang Phật, Diệu-âm Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh”. Xá-Lợi-Phất! Nam phương thế-giới hữu Nhựt-Nguyệt-ăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, ại-Diệm-Kiên Phật, Tu-Di-ăng Phật, Vô-Lượng Tinh Tấn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”. Xá-Lợi-Phất! Tây-Phương thế-giới hữu Vô-Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, ại-Quang-Phật, ại-Minh Phật, Bảo-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”. Xá-Lợi-Phất! Bắc phương thế-giới, hữu Diệm-Kiên Phật, Tối-Thắng-AÂm Phật, Nan-Thơ Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng Minh Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh”. Xá-Lợi-Phất! Hạ phương thế-giới, hữu Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, ạt-Ma Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”. Xá-Lợi-Phất! Thượng phương thế-giới, hữu Phạm-AÂm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, ại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc-Bảo-Hoa-Nghiêm thân Phật, Ta-La-Thọ-Vương Phật, Bảo-Hoa-ức Phật, Kiến-Nhứt-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”. Xá-Lợi-Phất! “Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”? Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, giai vi nhứt-thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị cố Xá-Lợi-Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết. Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát-nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A-Di-à Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh. Thị cố Xá-Lợi-Phất! Chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ. Xá-Lợi-Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công-đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công-đức nhi tác thị ngôn “Thích-Ca Mâu-Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta-bà quốc-độ ngũ-trược ác thế; kiếp-trược, kiến-trược, phiền-não trược, chúng-sanh trược, mạng-trược trung đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị chư chúng-sanh, thuyết thị nhứt thiết thế-gian nan tín chi pháp. Xá-Lợi-Phất! ương tri ngã ư ngũ-trược ác thế, hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị nhứt thiết thế-gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan. Quảng cáo Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá-Lợi-Phất cập chư Tỳ-kheo, nhứt thiết thế-gian, Thiên, Nhơn, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan-hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ. Phật thuyết A-Di-à kinh. A Di Đà Phật tán Tây-phương Giáo-Chủ Tịnh-độ năng Nhơn, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Phát nguyện thệ hoằng thâm. Thượng-phẩm thượng-sanh, ồng phó Bửu-Liên thành. Chí tâm đảnh lễ Mỗi câu đều đọc 1 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Lượng-Quang Như-Lai. 2 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Biên-Quang Như-Lai. 3 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Ngại-Quang Như-Lai. 4 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-ối-Quang Như-Lai. 5 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Diệm-Vương-Quang Như-Lai. 6 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Thanh-Tịnh-Quang Như-Lai. 7 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Hoan-Hỉ-Quang Như-Lai. 8 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Trí-Huệ-Quang Như-Lai. 9 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Nan-Tư-Quang Như-Lai. 10 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Bất-oạn-Quang Như-Lai. 11 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Vô-Xưng-Quang Như-Lai. 12 – Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-à Hải-hội, Siêu-Nhật-Nguyệt-Quang Như-Lai. Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. 3 lần Vãng sanh quyết định chơn ngôn Nam-mô a di đa bà dạ, a tha dà đa dạ, a địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ, A di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa tì ca lan đế, A di rị đa, tì ca lan đa, Dà di nị dà dà na, Chỉ đa ca lệ ta bà ha. Tán Phật A-Di-à Phật thân kim sắc Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di Cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-à Phật. Nam-mô A-Di-à Phật. Niệm nhiều ít tùy ý Nam-mô ại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. 3 lần Nam-mô ại-Thế-Chí Bồ-tát. 3 lần Nam-mô ại-Tạng Vương Bồ-tát. 3 lần Nam-mô Thanh-tịnh ại-Hải chúng Bồ-tát. 3 lần Sám thập phương Thập phương Tam-thế Phật A-Di-à đệ nhứt, Cửu phẩm độ chúng-sanh Oai-đức vô cùng cực, Ngã kim đại quy-y. Sám-hối tam nghiệp tội, Phàm hữu chư phước thiện, Chí tâm dụng hồi-hướng. Nguyện đồng niệm Phật nhơn, Cảm ứng tùy thời hiện, Lâm chung Tây-phương cảnh, Phân-minh tại mục tiền, Kiến văn giai tinh tấn, ồng sanh Cực-lạc quốc, Kiến Phật liễu sanh-tử, Như Phật-độ nhứt-thiết, Vô-biên phiền-não đoạn, Vô-lượng pháp môn tu; Thệ nguyện độ chúng-sanh, Tổng giai thành Phật đạo; Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng, Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng, Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí. Mười đại nguyện Quỳ đọc ệ-tử chúng đẳng Tùy-thuận tu tập Phổ-Hiền Bồ-tát Thập chủng đại nguyện Nhứt giả lễ kính chư Phật, Nhị giả xưng tán Như-Lai, Tam giả quảng tu cúng-dường, Tứ giả sám-hối nghiệp-chướng, Ngũ giả tùy-hỷ công-đức, Lục giả thỉnh chuyển pháp-luân, Thất giả thỉnh Phật trụ thế, Bát giả thường tùy Phật học, Cửu giả hằng thuận chúng-sanh, Thập giả phổ giai hồi-hướng. Hồi hướng Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh, Vô biên thắng phước giai hồi-hướng, Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh, Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát. Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não, Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu, Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ. Thế thế thường hành Bồ-tát đạo. Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung, Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu, Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ. Nguyện dĩ thử công-đức, Phổ cập ư nhứt thiết, Ngã đẳng dữ chúng-sanh, Giai cộng thành Phật-đạo. Thượng lai Vị chủ lễ xướng một mình như sau ệ-tử chúng đẳng, cung tựu Phật tiền, phúng tụng ại-thừa kinh chú, cập niệm Phật công đức, chuyên vì kỳ siêu hương linh….. Pháp danh….. tốc xả mê-đồ, siêu sanh Tịnh-độ. Phục nguyện Nhứt thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện hương linh đắc độ cao-siêu, kỳ gia-quyến hàm triêm lợi-lạc. Phổ nguyện Âm siêu dương thới, pháp giới chúng-sanh, tình dữ vô tình, tề thành Phật đạo. Nam-mô A-Di-à Phật. ồng niệm Tam quy y Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại-đạo, phát vô-thượng tâm. 1 lạy Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. 1 lạy Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. 1 lạy Xem thêm Tìm hiểu về tứ vô lượng tâm Từ Bi Hỷ Xả trong đạo Phật Tóm tắt nội dung [Ẩn]KHÁI NIỆM KINH CẦU SIÊU LÀ GÌ?Khái niệm cầu siêu là gì?Ý NGHĨA CỦA KINH CẦU SIÊU VÀ CÁC BÀI KINH TỤNG TRONG ĐÁM TANGÝ nghĩa của lễ cầu siêuKINH VĂN - KINH CẦU SIÊUNguồn gốc của kinh văn - kinh cầu siêuAI LÀ NGƯỜI CÓ THỂ ĐỌC KINH CẦU SIÊU?Ai là người có thể tụng kinh cầu siêu?Ngoài các bài kinh tụng trong đám tang thì kinh cầu siêu cũng là một nghi thức được thực hiện đều đặn sau khi con người giã từ nhân thế. Với nhiều hình thức cầu siêu khác nhau, các bài kinh trong đám tang cho đến kinh cúng cơm hàng ngày dường như được quan tâm hơn trước đây. Đặc biệt là đối với những gia đình theo Phật Giáo. Vậy, cầu siêu là gì? Và ý nghĩa của hoạt động này như thế nào? Cầu siêu và các bài kinh tụng trong đám tang KHÁI NIỆM KINH CẦU SIÊU LÀ GÌ? Kinh cầu siêu theo nghĩa đen tức là một sự kiện Dharma, tức là một thực hành khá quan trọng trong Phật Giáo tương tự như việc cúng tế để tưởng nhớ về người đã mất. Cầu siêu tức là cầu nguyện một cách chân thành cho sự yên nghỉ hay cầu nguyện cho việc siêu thoát của linh hồn người đã chết. Đây đồng thời cũng là một cơ hội để người thân và bạn bè đang sống có thể xác nhận lại được mối quan hệ mà người ra đi đã mang lại. Khái niệm cầu siêu là gì? Qua hình thức cầu siêu, những người đang sống cũng sẽ nhận ra được họ nợ người quá cố những gì để bày tỏ lòng thành và sự biết ơn đối với người đã khuất. Đây cũng là lúc phản ánh sâu sắc nhất chính bản thân họ trong sự kết nối đối với người đã khuất. Ngoài kinh cầu siêu thì các bài kinh tụng trong đám tang cũng là một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng. Thời điểm người đó trút hơi thở cuối cùng để về với đất mẹ cũng là lúc những bài kinh này được cất lên. Đây đồng thời cũng là một sự khởi đầu mới cho người đó ở một thế giới khác. Ý NGHĨA CỦA KINH CẦU SIÊU VÀ CÁC BÀI KINH TỤNG TRONG ĐÁM TANG Người ta thầm tin rằng, kinh cầu siêu sẽ làm gia tăng công đức của người đã khuất để họ có thể được tái sinh ở trong những vùng đất thanh tịnh và thuần khiết nhất. Vì vậy, kinh cầu siêu thường được con người ví là những bài kinh cầu mong sự tốt lành. Nhìn chung, cầu siêu không chỉ tốt cho người đã mất mà còn giúp người đang sống tích được công đức cho chính mình. Nếu các bài kinh tụng trong đám tang chỉ được sử dụng trong thời điểm tang lễ diễn ra thì kinh cầu siêu có thể sử dụng trong bất cứ trường hợp nào. Thông thường ở trong Phật Giáo sẽ có những buổi lễ tụng kinh cầu siêu được tổ chức. Những buổi cầu siêu này sẽ giúp cho những người quá vãng hiểu và ngộ ra được những điều chân lý. Thông qua đó, họ sẽ thoát khỏi được những cảnh giới tối tăm, những đọa đày mà siêu sinh về với nơi tịnh độ. Ý nghĩa của lễ cầu siêu KINH VĂN - KINH CẦU SIÊU Kinh Văn là bài kinh cầu siêu được sử dụng trong Phật Giáo. Bài kinh này bắt nguồn từ bài “Sám Cầu Siêu” của Đại Đao Tam Kỳ Phổ Độ đi thỉnh từ Chi Minh Lý hiện tại chính là Tam Tông Miếu. Bài kinh này với mục đích là cầu Đức Chuẩn Đề Bồ Tát ban cho và truyền kinh để phổ độ. Đến khi Đạo Cao Đài đã được khai sáng thì bên Hội Thánh cử một đoàn phái có 4 người đến Minh Lý Đạo để thỉnh bài kinh, trong số đó có bài kinh cầu siêu. Kể từ đó về sau, kinh cầu siêu được tụng đọc cho những Chơn linh mới mất hoặc đọc ở trong những tuần cầu siêu cầu xin ân xá cho vong hồn của người chết có thể siêu thoát. Nguồn gốc của kinh văn - kinh cầu siêu Trong quá trình cầu siêu, người thân trong gia đình và thân nhân gần gũi phải tập trung để cùng nhau thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người đã khuất được nhẹ nhàng. Lễ cầu siêu được tổ chức thường là cầu mong cho vong linh được phần nào được nhẹ nhàng hơn chứ không hẳn cứ cầu là sẽ được siêu thoát. Vong linh người chết có siêu thoát được hay không là phụ thuộc vào nghiệp quả nặng hay nhẹ mà khi còn sống người này đã gây ra. AI LÀ NGƯỜI CÓ THỂ ĐỌC KINH CẦU SIÊU? Khác với các bài kinh tụng trong đám tang thường sẽ do thầy cúng hoặc sư thầy đọc. Thế nhưng kinh cầu siêu thì có thể là thầy cúng, sư thầy hoặc trực tiếp thân nhân người đã mất tụng đọc đều được. Miễn sao, khi đọc kinh cầu siêu họ thể hiện được sự thành tâm cầu nguyện với bề trên mong cho người thân đã mất của họ được ra đi thanh thản, nhẹ nhàng và sớm được cầu siêu. Ai là người có thể tụng kinh cầu siêu? Nhiều người cho rằng, kinh cầu siêu nên là do người thân trong nhà đọc tụng để thể hiện được tâm ý chân thành hơn. Chính thân nhân của người đã khuất trong quá trình tụng kinh cầu siêu cũng đã giúp cho tâm hồn mình nhẹ nhàng hơn và đồng thời cũng là đang tự cầu siêu cho chính mình sau này. Tụng kinh cầu siêu hay các bài kinh tụng trong đám tang từ lâu đã trở nên quá đỗi quen thuộc đối với phong tục của các gia đình người Việt khi trong gia đình có người mất. Khi đã hiểu được ý nghĩa, sự quan trọng và giá trị tâm linh mà các bài kinh mang lại, chắc chắn trong mỗi chúng ta đều sẽ muốn và tìm hiểu về những bài kinh này. Feb 27, 2021Dưới đây là bài kinh cầu siêu cho người chết mà các Phật tử có thể tham khảo Niệm hương lễ bái Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm Tịnh pháp - g Domain Liên kết Bài viết liên quan Kinh cau hon nguoi chet Cầu nguyện cho người chết Khi phán xét riêng - tức là khi chúng ta chết, linh hồn chúng ta được "gởi" tới Thiên đàng, Luyện ngục hoặc Hỏa ngục. Thiên Chúa luôn lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta xin Ngài thương xót. Tuy nhi Chi Tiết Tất Cả Các Kinh Kinh Cầu Cho Người Đang Hấp Hối Kinh Cầu Cho Người Khác Kinh Cầu Cho Những Em Bé Chưa Được Sinh Ra Kinh Cầu Chúa Thánh Thần Kinh Cầu Đức Bà Kinh Cầu Được Chết Lành Kinh Cầu Mẹ Maria Giải Thoát Kinh Cầ Xem thêm Chi Tiết Kinh Cầu Được Chết Lành ôi chúa giêsu đầy lòng thương xót giang cánh tay trên thánh giá, xin nhớ đến giờ chết của con. ôi trái tim đầy lòng thương xót của chúa giêsu, mở ra bởi lưỡi đòng đâm thâu, xin che chở con trong giây Xem thêm Chi Tiết Cầu Cho Linh Hồn Mới Được Chúa Gọi Về chính Chúa là ấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh a Chi Tiết Cầu Nguyện cho Những Người đã Chết Nov 1, 2021Người tín hữu yên tâm bởi vì cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ và đời sống mai sau mới vĩnh cửu trường tồn. Chúa Kitô qua sự chết đã đánh bại tử thần, người tín hữu là con Chúa, họ cũng đán Chi Tiết

kinh cầu siêu cho người mới chết